Giới thiệu một số lễ hội tiêu biểu của dân tộc M’Nông Preh trên địa bàn xã Nâm Nung
Lễ hội truyền thống dân tộc M’Nông Preh là sinh hoạt cộng đồng tiêu biểu và quy mô nhất của cư dân tại chỗ xã Nâm Nung. Đây là những hoạt động mang tính tổng hợp của tín ngưỡng tâm linh, sinh hoạt văn hóa, trao truyền kỹ năng sống, hoạt động vui chơi, giải trí; đồng thời xây dựng tinh thần cố kết cộng đồng, giữ cho cộng đồng tồn tại và phát triển qua hàng ngàn đời. Những thành tố văn hóa trong lễ hội đã biểu hiện rõ sắc thái văn hóa của dân tộc, minh chứng cho sức sống mãnh liệt của văn hóa cộng đồng làm nên sự khác biệt khó trộn lẫn.
Một số lễ hội tiêu biểu thường được tổ chức như: Mừng mùa (Bư brah bă), Sum họp cộng đồng (R’nglăp bon), Cúng bến nước (Bư brah dơrâm dăk), Cầu mưa (Bư brah qual mih), Cầu an (Tăm blang m’prang bon). Tuy mỗi lễ hội có sự khác nhau, nhưng nhìn chung đó là sinh hoạt lớn của cộng đồng gồm nhiều yếu tố như: các nghi thức tế lễ, lễ vật, trưng bày cây nêu, trồng cây blang, ẩm thực và hoạt động vui chơi, giải trí… Phải thấy rằng, lễ hội giữ vai trò quan trọng trong đời sống cộng đồng, là sự tái hiện các hoạt động sáng tạo, nơi biểu diễn, giới thiệu nhiều giá trị.văn hóa truyền thống đặc sắc; là môi trường học hỏi đa diện các kỹ năng sống, sản xuất và sáng tạo văn hóa nghệ thuật; tôn trọng lẫn nhau, tôn trọng cuộc sống và biết ơn ông bà, những thế trước bằng lối ứng xử văn hóa giữa con người với con người, con người với môi trường tự nhiên và con người với thần linh.
Lễ hội Mừng mùa:
“Răm Rhơn Loch Kach Koi” được hiểu là Lễ mừng mùa của dân tộc M’Nông Preh. Đây là một nét sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng dân gian lâu đời, gắn với triết lý đa thần của cư dân nông nghiệp như: thần suối, thần sông, thần núi, thần rừng, thần cây… đã tạo ra sắc thái văn hóa riêng của đồng bào dân tộc M’Nông Preh xã Nâm Nung nói riêng và tỉnh Lâm Đồng nói chung.
Lễ Mừng mùa thường được tổ chức vào mùa khô, từ tháng 1 đến 3 dương lịch, khi đã thu hoạch xong, mùa màng bội thu cũng là lúc đồng bào M’Nông Preh tổ chức lễ cúng mừng mùa để tạ ơn. Lễ cúng mừng mùa là lễ hội lâu đời của đồng bào M’Nông Preh nhằm tôn vinh hạt thóc mà các vị thần linh ban cho dân làng và cầu cho mưa thuận, gió hòa, mùa màng bội thu, nhà nhà sung túc. Đây là nghi lễ mang ý nghĩa riêng, không những có giá trị sâu sắc về tinh thần mà còn khẳng định vai trò, vị trí của cộng đồng, gắn với thiên nhiên mà từ xa xưa cha ông cũng đã từng thực hiện.
Theo truyền thống, trước khi diễn ra ngày hội, Bon làng phải bàn bạc tại nhà già làng, trưởng bon, các gia tộc có thế lực để đi đến thống nhất ngày và lễ vật dâng cúng. Lễ vật chuẩn bị gồm có heo, gà, lúa gạo, trái cây, rau củ quả, rượu cần, vòng sức khỏe… Khi họp bàn công việc tổ chức và được sự thống nhất của mọi người về ngày tháng, địa điểm, quy mô tổ chức lễ hội, già làng kể cho con cháu về ý nghĩa của việc tổ chức lễ, phân công con cháu của các bon làm công việc chuẩn bị cho lễ hội.
Khi cúng xong, già làng lấy tiết gà pha rượu phết vào các vật dụng như dao, cào, rìu, xà gạc… mời các vị tổ tiên về dự lễ mừng mùa với bà con; mong thần linh bảo vệ, phù hộ cho con cháu luôn bình an, no đủ để những năm tiếp theo, bà con, bon làng tiếp tục phấn đấu để có một vụ mùa bội thu hơn nữa, cùng đoàn kết, cùng chung sức lao động, sản xuất, phát triển kinh tế, văn hóa xã hội, góp phần xây dựng đất nước phát triển giàu đẹp.
Tiếp sau nghi lễ cúng mùa, già làng tiến hành nghi lễ cúng sức khỏe: “Ơ… Các thần linh. Hỡi các thần linh trên trời. Hôm nay các bon chúng tôi sum họp về đây. Chúng tôi vui mừng khi gặp anh em chú bác. Có bon Pi Nao, bon Bù Bir, bon Bu Ja Rah, bon Bu Dấp. Chúng ta lâu ngày mới sum họp. Mời anh cùng nhảy múa. Mời anh cùng ăn uống no say. Mong thần bảo vệ, phù hộ cho con cháu bình an, no đủ. Hỡi thần linh trên trời…”
Sau đó, già làng tiến về chân cây nêu thực hiện nghi lễ theo phong tục, trao vòng sức khỏe. Những chiếc vòng đồng được già làng khấn, cầu các vị thần linh, cầu mong các thần ngự trị bên trong chiếc vòng, để những ai đeo chiếc vòng cũng gặp được nhiều may mắn, sức khỏe bình an.

Già làng tiến về chân cây nêu thực hiện nghi lễ trao vòng sức khỏe (Ảnh: tư liệu)
Nghi lễ kết thúc, già làng mời dân làng diễn tấu cồng chiêng và những điệu múa xoang với những tiết mục vui tươi, rộn ràng thể hiện niềm vui sau một mùa bội thu. Khách mời cùng dân làng đã cùng nhau thưởng thức men rượu cần cùng ẩm thực truyền thống của đồng bào dân tộc M’nông trong lễ mừng mùa: Ché rượu gri ngon ngọt và nồng. Ché rượu Yăng ngon ngọt và cay. Ché rượu nấu bằng hạt kê, ngon ít ai chê. Tất cả như chắt chiu, gửi gắm tình cảm của đồng bào, với những tín ngưỡng, những nét văn hóa đặc trưng truyền thống của dân tộc M’Nông.
* Lễ hội Sum họp cộng đồng (R’nglăp bon)
Với người M’Nông Preh, Lễ sum họp cộng đồng (R’Nglắp bon) là một nghi lễ quan trọng, độc đáo, mang tính nhân văn sâu sắc, có ý nghĩa lớn đối với đời sống tinh thần, khẳng định sự gắn kết của cộng đồng người M’Nông. Do đó, khi có điều kiện, đồng bào người M’Nông ở các bon thường tổ chức Lễ sum họp cộng đồng để động viên con cháu cùng nhau cố gắng học tập, chăm chỉ làm ăn, xây dựng bon làng ngày càng phát triển.
Theo truyền thống, lễ thường diễn ra vào mùa khô, từ tháng 1 đến tháng 3 dương lịch, khi thu hoạch mùa màng xong. Thời điểm này thích hợp để huy động và tập trung vật chất, con người; cộng đồng có dịp nghỉ ngơi, ăn uống, vui chơi, giải trí. Ðây là lễ lớn với sự tham gia của nhiều bon làng nên thường từ 3 đến 5 năm mới tổ chức một lần. Trước khi lễ diễn ra, già làng sẽ tiến hành họp bon để thống nhất chọn ngày đẹp, địa điểm, quy mô của buổi lễ. Sau khi thống nhất địa điểm và thời gian, thanh niên trai tráng trong bon chủ sẽ vào rừng chọn cây lồ ô thật đẹp để làm nêu, nấu cơm lam.
Trước ngày lễ một tuần, một cây nêu lớn được dựng lên, để thông tin và mời gọi các thần linh biết để về dự lễ với bon làng. Phần ngọn trên cây nêu trang trí nhiều hoa, hình chim, nai kết bằng tre nứa, được tô vẽ khéo léo, tinh xảo. Thân cây nêu trang trí hoa văn với mầu chủ đạo là đen, đỏ và trắng. Ở giữa thân cây nêu là một mâm tre hình vuông bày biện các lễ vật cúng thần linh. Riêng các bon làng tham dự sẽ mang theo các sản vật tự làm ra được như: heo, gà, lúa, rượu cần để đãi khách... Lễ vật cúng gồm: một con gà, một ché rượu cần và một đĩa xôi, tất cả đều đặt trên một chiếc nia bằng tre, đặt dưới chân cây nêu...
Sau khi nghi lễ kết thúc, bà con các bon tham gia Lễ sum họp cộng đồng vừa thưởng thức món ăn, rượu cần, vừa giao lưu sinh hoạt, hát dân ca, dân vũ, hát đối đáp, các nghệ nhân hát Ót N’drong quanh đống lửa bập bùng kéo dài tận đêm khuya. Ngày hôm sau, mọi người tiếp tục chơi các trò chơi dân gian như bắn nỏ, bịt mắt đánh chiêng...

Đồng bào sum họp, vui múa trong tiếng chiêng và ánh lửa bập bùng (Ảnh: st)
Trong cuộc sống hiện đại ngày nay mặc dù đã có nhiều thay đổi, nhưng Lễ sum họp cộng đồng vẫn tiếp tục được bảo tồn và phát huy giá trị tại các bon của người M’Nông. Lễ sum họp cộng đồng không còn bó hẹp trong không gian văn hóa của người M’Nông bản địa mà đã vượt ra khỏi không gian, cộng đồng của bon làng, tạo không khí vui tươi, đoàn kết, gắn bó mật thiết cộng đồng của các tộc người cùng sinh sống bên nhau.
*Lễ Cúng bến nước (Bư brah dơrâm dăk)
Lễ cúng bến nước là một lễ hội của người M’Nông Preh cầu cho mưa thuận gió hòa để mùa màng bội thu, người dân luôn khỏe mạnh, ấm no và coi trọng nguồn nước – sự sống của người M’Nông Preh. Trước đây người M’Nông Preh thường sống “du canh du cư”, tìm nguồn nước là yêu cầu thiết yếu để chọn nơi lập bon mới do đó khi tìm được nơi có nguồn nước trong vắt (thường nằm ở đầu nguồn nước như trong mạnh núi đá chảy ra, đầu suối, đầu sông hồ) thì phải làm lễ xin thần (Yàng) cho phép gia đình, bà con trong bon được về đây cư ngụ và sử dụng nguồn nước đó, nơi này sẽ là “bến nước” của gia đình và bon làng.

Nghệ nhân- Già làng đang thực hiện nghi lễ Cúng bến nước, đọc lời khấn mời các Giàng về dự.
Theo tín ngưỡng của người M’Nông Preh, Bến nước có thần linh cư ngụ và cai quản là vùng nước thiêng, là bầu sữa của thần linh ban cho bà con. Để tạ ơn thần linh, hằng năm sau khi vụ mùa kết thúc, trước khi bước vào vụ sản xuất mới già làng chọn ngày cùng với thầy cúng chủ trì công việc cúng bến nước. Già làng mời bà con trong bon họp bàn để phân công công việc như: dọn dẹp bến nước, nhà cửa, chuẩn bị lễ vật, đội chiêng – đội múa, chuẩn bị thức ăn,…người đóng góp công sức, người góp vật chất như gà, heo, rượu cần,…mọi người cùng nhanh chóng chuẩn bị những việc đã được phân công trong không khí vui vẻ, rộn ràng hạnh phúc.

Ngay tại bến nước cắm một cột lễ và cây nêu, trên cây nêu trang trí mô phỏng sừng trâu, chim, bông lúa,… lễ cúng bến nước gồm 2 phần: phần lễ cúng mời các thần linh, tổ tiên về tham dự và chứng giám lễ cúng đầu nguồn nước và phần hội. Phần lễ sẽ cúng vật hiến sinh gồm 1 con gà trống tơ (hoặc 1 con heo con), gạo, đèn sáp ong và 1 ché rượu cần. Khi lễ cúng bắt đầu, thầy cúng và già làng khấn báo sự việc bon tổ chức lễ cúng, mời tổ tiên, ông bà của chủ bến nước và các thần linh cùng về dự lễ. Sau đó, già làng sẽ tiến hành đeo chỉ cầu an (đã được tẩm tiết gà cúng) cho mọi người. Khi lễ cúng kết thúc, phần hội được tiếp tục trong tiếng chiêng trầm ấm, rộn rã tiếng cười cùng các điệu múa của các thiếu nữ, lời hỏi thăm nhau của những người dự lễ, mọi người từ già trẻ, nam nữ của trong bon cũng như ngoài bon được mời tham dự quây quần bên nhau cùng ăn và uống rượu cần.

Già làng đeo chỉ cầu an (đã được tẩm tiết gà cúng) cho mọi người
Lễ cúng bến nước còn truyền đi thông điệp giáo dục mọi người trong bon có trách nhiệm bảo vệ môi trường sinh thái, bảo vệ rừng, đất đai, nguồn nước, coi nguồn nước là báu vật của cả cộng đồng đồng thời răn dạy con cháu phải tôn trọng thần nước và các vị thần đã có công bảo vệ nguồn nước luôn dồi dào, ban cho mưa thuận gió hòa, mùa màng bộ thu, gìn giữ và bảo vệ bình an cho bon làng.
* Lễ Tăm Blang M’prang Bon (Lễ Rào Bon trồng cây)
Lễ hội Tăm Blang M’prang Bon xuất phát từ truyền thuyết xưa của tộc người M’nông. Thuở xưa, rừng Nâm Nung có một bộ tộc Lao Bô (ma rừng). Cứ đêm đến, ma rừng lại lẻn vào làng tìm phụ nữ và trẻ con dọa dẫm. Chúng hay vào bon làng quấy phá, bắt người, nhất là phụ nữ và trẻ em. Mỗi khi bị ma rừng tấn công, người dân trong bon liền kéo nhau vào rừng ẩn nấp dưới bóng cây Blang. Lao Bô không sợ bất cứ thứ gì, chỉ sợ duy nhất cây Blang (cây gạo).
Người M’Nông Preh cho rằng cây Blang rất thiêng, là nơi trú ngụ của thần linh che chở cho dân làng. Con ma rừng không sợ bất cứ thứ gì nhưng khi nhìn thấy loại cây có lớp vỏ sần sùi màu đỏ thẫm chứa nhiều gai nhọn mà người dân Tây Nguyên gọi là cây Blang thì lập tức biến mất. Từ đó, người M’nông tin rằng Blang là cây thiêng, là nơi trú ngụ của thần linh sẵn sàng bảo vệ, che chở dân làng. Vì vậy, mỗi năm dân làng đều tổ chức lễ hội trồng cây Blang ngăn ma rừng không cho xâm nhập để phá hoại bon làng. Cây Blang có sức sống mãnh liệt, chỉ cần một lớp vỏ khô vùi xuống đất cũng đâm chồi nảy lộc.
Blang không chỉ là cây thiêng bảo vệ buôn làng mà còn là biểu tượng cho ý chí vươn lên cùng tấm lòng thành thẳng và ước muốn được trường tồn, sống lâu, bất khuất kiên trung của cộng đồng người M’Nông Preh trong mọi hoàn cảnh. Do đó trong tất cả các lễ hội của đồng bào luôn lấy cây Blang làm cột lễ. Cây Blang chính là vật lễ không thể thiếu trong ngày hội. Lễ vật dâng thần linh gồm: 1 ché rượu cần, một cành cây Blang, 1 con gà (hoặc heo), máu gà (hoặc heo), 1 chén cơm trắng, 3 quả cà, gạo, ớt xanh, ống đựng rượu cần, đèn sáp ong và than quấn bông gòn đặt cạnh cây Blang vừa trồng. Lễ cúng cuối cùng được tổ chức vào chiều tối khi dân làng tập trung đầy đủ. Ngoài ra lễ vật còn có các sản vật khác như: Gà rừng, heo, cơm lam và nải chuối rừng được đặt lên bàn thờ để kính báo ông bà đã khuất về dự lễ.

Mâm cúng các lễ vật
Trước ngày lễ, dân làng sắm sửa trang phục mới, trang trí nhà cửa tinh tươm để đón khách quý từ khắp nơi về dự lễ hội. Lễ Tăm Blang M'prang Bon trải qua 3 lần cúng. Lần đầu tiên vào buổi sáng sớm trước ngày diễn ra lễ chính, các già làng, nghệ nhân tham gia lễ hội sẽ làm lễ cúng ở nhà xin phép thần linh cho dựng cây nêu, đồng thời báo cáo ông bà tổ tiên biết trong bon làng sắp tổ chức lễ hội. Lễ cúng lần hai vào buổi chiều sau khi già làng cùng thanh niên trong bon dựng hàng rào, trồng cây Blang trước nhà văn hóa cộng đồng.
Giữa đất trời, trước cây nêu cao to có đặt đầy đủ lễ vật, già làng khấn các thần linh chứng giám làm lễ trồng cây Blang rào bon, xin các thần linh chăm sóc cho cây tươi tốt để bảo vệ bon làng, bảo vệ chúng sinh không bệnh tật, ốm đau... Khấn xong, già làng dùng ngọn đuốc châm vào đống củi chất sẵn trước sân để kết thúc phần lễ. Ngọn lửa thiêng rực sáng cả vùng trời như một tín hiệu sự cho phép của thần linh
Lễ hội truyền thống của người M’Nông Preh là sinh hoạt văn hóa tiêu biểu, hàm chứa nhiều giá trị của cuộc sống, trong đó có nhiều thành tố văn hóa giữ nền tảng cho cộng đồng phát triển và tồn tại, là những biểu tượng về hành động cao đẹp về việc ứng xử giữa con người với con người, con người với tự nhiên và con người với các đấng thần linh, với đặc trưng là văn hóa rừng, văn hóa canh tác nương rẫy, do đó cộng đồng đã sáng tạo ra những loại hình văn hóa độc đáo, mà lễ hội chính là đỉnh điểm của sinh hoạt văn hóa cộng đồng, minh chứng cho sự sáng tạo không ngừng của bao thế hệ đã bồi đắp và nuôi dưỡng. Trải qua những giai đoạn phát triển lâu dài của cộng đồng M’Nông Preh ở xã Nâm Nung với nhiều biến động nhưng người M’Nông Preh đã thể hiện tinh thần đoàn kết, thống nhất, đã làm nên sắc thái văn hóa, nghệ thuật hết sức ấn tượng, hình thành lên những dấu ấn riêng biệt và có thể nhìn nhận qua nhưng di sản văn hóa cộng động đã để lại cho đến ngày nay. Việc đưa ra những giải pháp để bảo tồn và phát huy các giá trị của lễ hội truyền thống của người M’Nông Preh trong điều kiện thay đổi trong xã hội hiện nay là việc làm cần thiết. Cũng nhằm mục đích quảng bá những hình ảnh cao đẹp, ý nghĩa của lễ hội truyền thống đến với đông đảo cộng đồng các dân tộc anh em, khách du lịch; đặc biệt là những nhà quản lý, trên cơ sở đó để hoạch định những chính sách chiến lược, lâu dài để bảo tồn văn hóa truyền thống độc đáo của cộng đồng, chúng tôi mong muốn góp một phần vào công cuộc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc M’Nông trong dòng chảy chung của văn hóa Việt Nam./.